Nội soi là phương pháp thường dùng để kiểm tra ống thực quản nhằm phát hiện những tổn thương, dấu hiệu bất thường,… từ đó bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị kịp thời. Bài viết này, Mediplus sẽ cung cấp 10+ hình ảnh nội soi thực quản giúp người bệnh hình dung được tình trạng thực quản khi bị bệnh và lợi ích tuyệt vời của nội soi.
1. Hình ảnh nội soi thực quản bình thường
Đường tiêu hóa trên bắt đầu từ khoang miệng tới D2 tá tràng, trong khi thực quản bắt đầu từ cơ thắt thực quản ngay ngã ba hầu họng tới chỗ nối dạ dày thực quản (đường Z ).
2. Hình ảnh các bệnh lý thực quản qua nội soi
2.1. Viêm loét thực quản do nhiễm khuẩn
Viêm thực quản nhiễm khuẩn thường do nguyên nhân chính là vi khuẩn lao, nấm Candida, Cytomegalovirus, virus Herpetic…
Viêm thực quản do nấm candida (Candida esophagitis ):
Nấm thực quản hay còn gọi là bệnh nấm Candida thực quản là tình trạng niêm mạc thực quản bị viêm do nấm Candida gây ra. Dấu hiệu thường thấy trên hình ảnh nội soi thực quản là những mảng nhầy màu trắng hoặc vàng bám trên niêm mạc.
A: Độ I, một vài mảng trắng kích thước ≤ 2mm không bị phù nề hoặc loét.
B: Độ II, nhiều mảng trắng nổi lên có kích thước lớn hơn 2mm không loét.
C: độ III, mảng trắng dạng nốt lớn,hội tụ thành các đường thẳng.
D: Độ IV, giống độ III có màng nhầy và đôi khi hẹp lòng thực quản.
E: Xuất hiện ” thảm trắng ”, mảng bám dày màu trắng phủ toàn bộ niêm mạc thực quản làm hẹp lòng thực quản.
F: Bệnh nấm miệng,nội soi có thể phát hiện được bệnh nấm Candida ở thanh quản.
Viêm thực quản do Cytomegalovirus (CMV esophgitis):
(a) Trợt viêm với các mảng giả mạc dễ bong tróc.
(b) Nội soi phóng đại thấy mạng lưới các mao mạch nhỏ trên phần loét niêm mạc.
(c) Sử dụng nội soi phóng đại nhuộm màu, tổn thương loét hiện rõ là khu vực màu nâu ranh giới rõ ràng với các vi mạch dạng lưới không đều.
Viêm thực quản do herpes ( Herpetic esophagitis):
Tổn thương thực quản do herpes trên nội soi thường có đặc điểm có nhiều ổ loét nông, bề mặt có xuất tiết. Khoang miệng và thành họng có thể cũng có tổn thương.
Viêm thực quản do lao ( Tuberculous esophgitis ):
Hình ảnh tổn thương thực quản do lao thường có thể ở các dạng loét, quá sản, hạt, trong đó dạng loét thường gặp nhất.
2.2. Viêm loét thực quản không nhiễm khuẩn
Tình trạng viêm loét thực quản không nhiễm khuẩn thường do những những nguyên nhân chính như sau:
Nguyên nhân do tác dụng phụ của thuốc (Pill-induced esophagitis)
Hình ảnh nội soi thực quản có thể thấy các ổ loét đơn độc hoặc đa ổ hình tròn hoặc bầu dục. Bờ ổ loét có thể không đều nhưng ranh giới rõ.
Nguyên nhân do tăng bạch cầu ái toan hay bạch cầu ưa acid (Eosinophilic esophagitis)
Hình ảnh điển hình là niêm mạc có các nếp sọc dài, vòng tròn, nhiều nốt màu hơi trắng hoặc trắng, niêm mạc mủn, xuất tiết trắng, hẹp lòng thực quản.
Viêm thực quản do chất ăn mòn (Corrosive esophagitis)
Hình ảnh tổn thương thực quản do chất ăn mòn như acid hoặc kiềm trong giai đoạn cấp thường gặp phù nề, xung huyết, chảy máu, phỏng nước, trợt, loét. Thủng thực quản thường xuất hiện trong 2 - 3 ngày hoặc 2 tuần sau uống hóa chất.
Viêm thực quản do tia xạ (Radiation- induced esophagitis)
Hình ảnh tổn thương thực quản do phụ thuộc mức độ và thời gian chiếu xạ. Giai đoạn cấp sẽ xung huyết, phù nề, loét, hoại tử, xuất tiết và giả mạc. Trong giai đoạn bán cấp hoặc mạn có tạo sẹo, chít hẹp, dò, giãn mạch.
2.3. U dưới niêm mạc thực quản
Hình ảnh u dưới niêm mạc thực quản là khối lồi vào trong lòng thực quản, bề mặt niêm mạc bình thường, nhẵn, mềm mại.
2.4. Viêm thực quản trào ngược
Trên nội soi các vết trợt niêm mạc ở đường Z có thể gặp ở khoảng 40%-50% bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản. Do tính dễ sử dụng và sự thay đổi giữa các cá nhân rất nhỏ trong việc đánh giá, nên thường sử dụng phân loại Los Angeles (LA) để đánh giá mức độ viêm thực quản do trào ngược.
LA độ A: một hoặc một số vết trợt, loét giới hạn ở (các) nếp gấp niêm mạc và không lớn hơn 5 mm.
LA độ B: một hoặc một số vết trợt, loét giới hạn ở (các) nếp gấp niêm mạc và lớn hơn 5 mm.
LA độ C: các vết trợt, loét kéo dài trên các nếp gấp của niêm mạc, lớn hơn 5mm nhưng chiếm trên ba phần tư chu vi.
LA độ D: các vết trợt, loét kéo dài hợp lưu kéo dài, chiếm hơn 3/4 chu vi.
Vòng Schatzki có cấu trúc là niêm mạc thực quản, dạng vòng ở vị trí nối giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy. Nguyên nhân gây ra vòng Schatzki được biết tới là do phản ứng viêm trào ngược thực quản. Hầu hết vòng Schatzki không gây triệu chứng, tuy nhiên một số trường hợp có thể gây khó nuốt nếu vòng có đường kính nhỏ hơn 13mm.
2.5. Giãn tĩnh mạch thực quản
Giãn tĩnh mạch thực quản là tình trạng tĩnh mạch tăng lưu lượng máu qua hệ thống tuần hoàn bàng hệ do tăng áp lực tĩnh mạch cửa, nguyên nhân do xơ gan. Kích thước của giãn tĩnh mạch liên quan tới áp lực tĩnh mạch thực quản. Áp lực càng cao thì nguy cơ xuất huyết sẽ có nguy cơ dễ xảy ra. Có nhiều hệ thống khác nhau để phân loại giãn tĩnh mạch thực quản. Dưới đây là hình ảnh theo phân loại Paquet.
2.6. Thoát vị hoành
Thoát vị làm một phần dạ dày qua thực quản vào trung thất. Bệnh thường được phát hiện tình cờ trong quá trình nội soi dạ dày. Năm 1996 Hill và cộng sự đã phân loại thoát vị hoành trượt trên nội soi thành 4 loại.
Năm 1996 Hill và cộng sự đã phân loại thoát vị hoành trượt trên nội soi thành 4 loại.
Một số ảnh thực tế lâm sàng:
2.7. Ung thư thực quản
Nội soi công nghệ cao được khuyến nghị trong tầm soát ung thư sớm vì có khả năng phát hiện các tế bào ung thư từ khi đang ung thư tại chỗ và chưa xâm lấn. Ở giai đoạn đầu, bề mặt niêm mạc bị thay đổi màu sắc, không còn nhẵn bóng, mờ nhạt. Càng về sau, các khối u bắt đầu tăng kích thước, loét sùi và xâm lấn sang khu vực xung quanh. Đồng thời lòng thực quản bị hẹp lại.
2.8. Dị vật thực quản
Thức ăn và nhiều vật lạ bị nuốt có thể ứ lại trong thực quản. Dị vật thực quản gây khó nuốt và đôi khi gây thủng Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, tuy nhiên có thể cần chẩn đoán hình ảnh và nội soi Một số vật tự thoát qua, nhưng phần lớn cần nội soi lấy dị vật.
2.9. Barrett thực quản
Barrett thực quản là hậu quả của tình trạng viêm thực quản trào ngược mãn tính gây biến đổi dần dần niêm mạc biểu mô vảy không sừng hóa của thực quản thành biểu mô trụ dưới dạng dị sản ruột.
2.10. U nhú thực quản
U nhú biểu mô vảy thực quản thường đơn độc, không có cuống, phát triển từ lớp biểu mô vảy, thường không có nguy cơ ác tính.
Trên đây là những hình ảnh nội soi thực quản mà MEDIPLUS tổng hợp được, hy vọng đã giúp người bệnh phần nào hình dung được đặc điểm của thực quản bị tổn thương như thế nào.
Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào khác về nội soi thực quản, hãy liên hệ tới Hotline 1900 3366 để các chuyên gia tư vấn nhanh và chính xác nhất.
*Lưu ý: Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán và điều trị y khoa!